Giáo Dục

Thuyết minh về nghệ thuật sấn khấu tuồng

Nghệ thuật tuồng là một trong những loại hình nghệ thuật dân gian lâu đời của nước ta. Bài văn thuyết minh về nghệ thuật sân khấu sẽ giúp các em hiểu rõ hơn về nguồn gốc, sự hình thành, phát triển, đặc điểm và giá trị của tuồng trong văn hóa nghệ thuật đại chúng.

Chủ đề: Trình bày về nghệ thuật sân khấu.

Mục lục bài viết:
I. Lập kế hoạch chi tiết
II. mẫu thử

Trình bày về nghệ thuật sân khấu.

I. Ghi chú Tóm tắt về Hiệu suất Sân khấu (Tiêu chuẩn)

1. Mở bài:

Giới thiệu đề văn tự sự: nghệ thuật tuồng.

2. Nội dung mục:

A. Nguồn gốc và tên gọi:
Tuồng còn được gọi là hát bội, hát bội, tuồng, là một trong những loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống đặc sắc nhất của dân tộc.
Theo nhiều học giả, tuồng có nguồn gốc từ âm nhạc, múa, diễn xướng dân gian và ra đời từ khi còn rất nhỏ.
– Đào Duy Từ là người đặt nền móng cho nghệ thuật tuồng Việt Nam.
– Tính phổ biến: Ban đầu Tuồng xuất hiện nhiều ở miền Bắc nước ta, sau đó phát triển ở Đàng Trong. Ở miền Trung, đặc biệt là Bình Định, tuồng có ảnh hưởng rất lớn.

b. Chọn ra:
– Tu tuong, tuong, tuong, tuong, vua tuong, tuong tu.
Bên cạnh những đặc điểm chung, mỗi loại sơn đều có những đặc điểm nổi bật riêng, tạo nên “cá tính” riêng.

c. Các tính năng:

– Nội dung khóa học:
+ Viết về những anh hùng yêu nước, dám hy sinh quên mình vì nghĩa lớn.
+ Ở họ ánh lên vẻ đẹp của phẩm chất anh hùng: có lí tưởng cao đẹp, niềm tin sắt đá vào chiến thắng, lòng trung thành vô hạn, chí khí anh hùng, dũng cảm, sẵn sàng hy sinh tất cả.
+ Ngoài ra, nghệ thuật Tuồng còn đề cập đến những bài học về pháp luật, cách đối nhân xử thế giữa con người với nhau, việc riêng, chung giữa gia đình và đất nước.

– Kịch bản:
+ Được xây dựng theo dòng kịch trần thuật phương Đông.
+ Sự việc diễn ra theo trình tự thời gian, có mở đầu và kết thúc.
+ Xung đột được xây dựng chặt chẽ và đưa lên cao trào.
+ Mỗi màn trong tuồng thường gồm ba màn.

– Phong cách diễn xuất:
+ Tuồng sử dụng lối diễn xuất thông thường, hình thức.
+ Các diễn viên nổi bật từ khuôn mặt, trang phục đến tính cách, hành động.
+ Cách điệu múa, diễu hành, các động tác chân: bê, cựa, xé và lăn, biểu diễn, đánh dấu, phóng uế, bẻ lông trĩ, bẻ cờ, …

– Làn điệu:
+ Khi diễn, diễn viên sử dụng ngôn ngữ ngâm thơ to, rõ ràng.
+ Trong hát bội, hát quan trọng nhất là “lối nói” – kết hợp giữa hát và nói.
+ Một số làn điệu hát nói tiêu biểu: làn điệu khách (khách, phú lục, hò mè, hợp âm, đào ma), điệu múa Nam (Nam Ai, Nam xuân, ..)

– Tác phẩm tiêu biểu: Mị Ngô, Trần Bình Trọng, Cát Trầm Hương, Mỵ Châu – Chuyện Trọng Thủy Tinh, …

3. Kết luận

– Khẳng định giá trị của nghệ thuật tuồng.
– Liên hệ: giữ gìn, phát triển.

II. Bài văn mẫu Giải thích nghệ thuật sân khấu (Chuẩn)

Việt Nam luôn tự hào về những giá trị văn hóa lâu đời được gìn giữ và phát triển qua nhiều thế kỷ dựng nước và giữ nước. Một trong những giá trị văn hóa được bảo tồn là các loại hình nghệ thuật đặc sắc như chèo, tuồng, dân ca quan họ, v.v. Trong đó, nghệ thuật tuồng vẫn chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trên thế giới. văn hóa nghệ thuật của dân tộc.

Tuồng còn được gọi là hát bội, hát bội, tuồng. Là một trong những loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống đặc sắc của dân tộc. Theo nhiều học giả, tuồng có nguồn gốc từ âm nhạc, múa, diễn xướng dân gian, ra đời từ khi còn nhỏ. Theo nhiều tài liệu lịch sử, Đào Duy Từ là người đặt nền móng cho nghệ thuật tuồng Việt Nam. Lúc đầu, tuồng xuất hiện nhiều ở miền Bắc nước ta, sau đó phát triển ở Nam Kỳ. Thời Nguyễn, Tuồng rất được vua chúa và triều thần quan tâm, mở trường học và có nhiều ưu đãi để đào tạo thợ Tuồng nên loại hình nghệ thuật này phát triển mạnh vào khoảng thế kỷ XVII – XIX. Ở miền Trung, đặc biệt là Bình Định, tuồng có ảnh hưởng rất lớn.

Tuồng là một loại hình nghệ thuật khá đa dạng với nhiều loại hình như: Tuồng, tuồng Ngư, tuồng Phố, tuồng Cung đình, tuồng Hiện đại. Ngoài những đặc điểm chung, chúng có những đặc điểm riêng biệt tạo nên “cá tính” riêng của từng loại sơn.

Khác với chèo, cải lương hay tuồng, nghệ thuật tuồng mang âm hưởng hào hùng, hùng tráng, viết về những anh hùng trung thành với dân tộc, những người yêu nước trung thành, mẫu mực, dám đương đầu, hy sinh vì Tổ quốc. cảm giác tuyệt vời. Công lý trong tuồng luôn được đặt trong những tình huống, hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm. Trong nghịch cảnh, họ tỏa sáng với vẻ đẹp của những phẩm chất anh hùng như: có lí tưởng cao đẹp, niềm tin chiến thắng kiên định, lòng trung thành vô bờ bến, tinh thần anh dũng, dũng cảm, sẵn sàng hy sinh tất cả vì sự nghiệp cao cả. Trận chiến của anh với đội quân phi nghĩa rất gay cấn, mỗi giây phút trôi qua đều gây xúc động mạnh cho người xem. Ngoài ra, nghệ thuật Tuồng còn đề cập đến những bài học về pháp luật, cách đối nhân xử thế, đối nhân xử thế riêng giữa dòng họ và quê hương. Chính nội dung đạo đức cao cả của tuồng đã giúp cho loại hình nghệ thuật này có sức sống lâu bền, như bắt nguồn từ văn hóa dân gian.

Kịch bản tuồng nhìn chung được xây dựng theo dòng kịch tự sự phương Đông. Mỗi vở tuồng đều mang một ý nghĩa sâu sắc, các sự kiện diễn ra theo trình tự thời gian, có mở đầu và kết thúc. Trong tuồng, mâu thuẫn được xây dựng rất mạnh mẽ và mang tính chất kịch tính. Đó có thể là xung đột giữa phe đối lập và phe chính nghĩa, hoặc cũng có thể là xung đột giữa những nét tính cách bên trong của nhân vật. Mỗi kịch bản thường bao gồm ba màn. Màn I giới thiệu hoàn cảnh của nhân vật, nêu mâu thuẫn cơ bản. Màn II tái hiện những xung đột căng thẳng và phức tạp. Màn III, giải quyết xung đột, phần thắng thuộc về phe hữu.

Tường sử dụng lối diễn xuất thông thường và trang trọng. Vì vậy, khi lên sân khấu, mỗi nhân vật đều có một nét riêng không dễ bị nhầm lẫn, để khán giả dễ dàng cảm nhận được câu chuyện. Trên sân khấu, cái xấu, cái hèn, cái thiện và cái ác được thể hiện rõ ràng. Các diễn viên khác nhau từ khuôn mặt, trang phục đến tính cách và hành động. Vua, thiếp và hoàng hậu mặc trang phục thêu rồng, phượng. Nữ đài cá tính mặc áo dài lụa trắng, cô dâu mặc lụa đỏ v.v. Dáng đứng cao ráo, bước đi trang nghiêm, khuôn mặt đỏ bừng tượng trưng cho vai trò trung thành của anh. Đúng hơn, họ là những kẻ xấu xa, xảo quyệt, lén lút, bất cẩn, mặt xám xịt. Các động tác múa, diễu, chân cách điệu của các hình tượng trong tuồng cũng khá đa dạng như: bê tráp, xiên, xiên, tuyên, sào, cầu, trĩu lông, cờ, v.v.

Khi diễn, diễn viên sử dụng ngôn ngữ ngâm thơ to, rõ và rõ ràng. Trong hát bội, làn điệu quan trọng nhất là “điệu nói”, là sự kết hợp giữa hát và nói. “Xuân” – giọng vui vẻ, “ai” – giọng ủ rũ và buồn bã là hai giọng điệu chính của bài nói. Một số làn điệu tuồng tiêu biểu là làn điệu khách (khách chung, phú lục, hò vè, Ngâm, Tàu Mạ) và điệu múa Nam (Nam Ai, Nam Xuân, …). Tác phẩm của Tường không quá nhiều nhưng đều có một giá trị đặc biệt. Nhiều tác phẩm được công chúng biết đến và đánh giá cao như: Chị Ngô, Trần Bình Trọng, Trầm hương cát tường, Mỵ Châu – Trọng Thủy tình sử.

Hiện nay, nghệ thuật tuồng dân gian đang có nguy cơ mai một vì nhiều lý do. Ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy rất nhiều khó khăn để khôi phục, giới thiệu và phát triển bộ môn nghệ thuật này. Tôi tin rằng chúng ta là thế hệ trẻ nên học hỏi, bảo tồn và phát huy nghệ thuật tuồng truyền thống để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, là di sản tinh thần quý báu mà ông cha ta để lại.

—– HẾT —–

https://thuthuat.taimienphi.vn/thuyet-minh-ve-nghe-thuat-san-khau-tuong-68880n.aspx
Trên đây chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn về nghệ thuật sân khấu Tuồng, hơn nữa các bạn có thể tham khảo thêm các bài văn mẫu hay khác như: Thuyết trình về nghệ thuật múa rối nướcThuyết minh về cải lương – nghệ thuật sân khấu truyền thống của Nam Bộ, Việt Nam, Giải thích không khí chèo để có thêm nhiều kiến ​​thức bổ ích và học cách viết một bài văn thuyết phục.

Học Wiki

Trang web #hocwiki cung cấp kiến thức điện tử cơ bản về tụ điện , điện trở các kiến thức về mạch điện hy vọng sẽ mang lại cho các bạn những kiến thức điện tử online hữu ích nhất.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button